"Cú hích" cho phát triển cảng biển và dịch vụ cảng biển tỉnh Quảng Ninh

08/05/2019 10:50

Ngày 23/4/2019, Tỉnh ủy Quảng Ninh ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển cảng biển và dịch vụ cảng biển trên địa bàn tỉnh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Phát triển dịch vụ cảng biển trở thành một trong những dịch vụ quan trọng của tỉnh Quảng Ninh
(Nguồn: Internet)

Phát triển nhưng chưa đột phá

Hiện trên toàn tỉnh có 6 khu vực hàng hải bao gồm Vạn Gia - Hải Hà, Mũi Chùa, Cô Tô, Cẩm Phả - Cửa Đối, Hòn Gai và Quảng Yên. Trong đó, chỉ có 5 khu vực hàng hải có hoạt động hàng hải (trừ khu vực hàng hải Cô Tô).

Giai đoạn 2014-2018, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển Quảng Ninh đạt 361,4 triệu tấn, tăng trưởng trung bình 21,7%/năm và hành khách đạt 493.121 lượt khách. Tuy nhiên, sự tăng trưởng không ổn định; hệ thống cảng biển và hạ tầng giao thông kết nối đã được tỉnh tập trung thu hút nguồn lực đầu tư, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển.

Năm 2018, tổng lượng hàng hóa thông qua cảng biển Quảng Ninh đạt 81,8 triệu tấn. Lượng hàng hóa trực tiếp qua cảng đạt 32,3 triệu tấn (chỉ chiếm 39,5%) và chủ yếu thông qua 2 khu bến Cái Lân và Cẩm Phả (chiếm 97,5%), còn lại các bến cảng Mũi Chùa, Vạn Gia chiếm 2,5%.

Hàng hóa chuyển tải được thực hiện tại 3 khu neo đậu với sản lượng hàng hóa chuyển tải năm 2018 đạt 49,5 triệu tấn (chiếm 60,5%). Trong đó, nhiều nhất là khu neo Cẩm Phả với 70 vị trí neo đậu, sản lượng hàng hóa đạt 38,56 triệu tấn (chiếm 78%); khu neo Hạ Long với 30 vị trí neo đậu, sản lượng hàng hóa đạt 10,16 triệu tấn (chiếm 20,5%); khu neo Vạn Gia phục vụ hàng biên mậu, sản lượng hàng hóa đạt 0,77 triệu tấn (chiếm 1,5%).

Về dịch vụ cảng biển, trên địa bàn tỉnh hiện có 11 loại dịch vụ thuộc 3 nhóm, bao gồm: Nhóm dịch vụ công (hải quan, cảng vụ, bảo đảm hàng hải); nhóm dịch vụ kinh doanh trực tiếp tại cảng (cung ứng tàu biển, xếp dỡ hàng hóa, lưu kho bãi và cho thuê kho bãi, lai dắt và hỗ trợ kéo tàu biển, đóng mới và sửa chữa tàu biển); nhóm dịch vụ kinh doanh gián tiếp (vận tải biển, đại lý hàng hải, vận tải đa phương thức).

Trong đó, một số dịch vụ nổi bật như: Dịch vụ xếp dỡ hàng hóa tại cảng Cái Lân được trang bị hệ thống xếp dỡ hàng hóa hiện đại trên thế giới với 04 cẩu bờ STS loại Post Panamax (tàu biển có trọng tải lên tới 100.000 DWT); dịch vụ đóng mới và sửa chữa tàu biển tại Nhà máy sửa chữa tàu biển Nosco - Vinalines là nhà máy duy nhất ở miền Bắc có thể tiếp nhận được tàu biển cỡ Panamax; dịch vụ hải quan với hệ thống quản lý hải quan tự động tại cảng biển đã được triển khai tại khu bến Cái Lân từ năm 2017.

Doanh thu dịch vụ cảng biển giai đoạn 2014-2018 đạt khoảng 6.500 tỷ đồng; riêng năm 2018 đạt 1.801 tỷ đồng, tỷ trọng đóng góp giá trị tăng thêm của dịch vụ cảng biển trong GRDP là 0,42%.

Những số liệu trên cho thấy, phát triển cảng biển và dịch vụ cảng biển của Quảng Ninh thời gian qua đã có những chuyển động nhất định, góp phần đem lại sự tăng trưởng cho địa phương. Tuy nhiên, sự phát triển này chưa tạo ra được đột phá.

“Cú hích” cho phát triển cảng biển và dịch vụ cảng biển

Ngày 23/4/2019, Tỉnh ủy Quảng Ninh ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển cảng biển và dịch vụ cảng biển trên địa bàn tỉnh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Nghị quyết được ban hành hướng tới mục tiêu xây dựng khu vực cảng biển Quảng Ninh được định vị và có thương hiệu, khả năng cạnh tranh cao, đáp ứng tốt nhu cầu trong nước và quốc tế; doanh thu dịch vụ cảng biển góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao giá trị gia tăng, tỷ trọng đóng góp ngành dịch vụ trong GRDP của tỉnh; hình thành các trung tâm dịch vụ logistics chất lượng cao, đồng thời khai thác tiềm năng, phát triển đa dạng các loại dịch vụ có lợi thế; phát triển mạnh du lịch biển, trở thành trung tâm du lịch quốc gia kết nối với các trung tâm du lịch quốc tế lớn của khu vực và thế giới thông qua đường biển.

Từng bước hoàn thành và phát triển hệ thống cảng biển đồng bộ, hiện đại, thông minh có khả năng kết nối cao với các phương thức vận tải theo hướng hợp lý hóa, giảm thời gian, chi phí vận tải; phát triển dịch vụ cảng biển đảm bảo chất lượng, phù hợp với xu thế hội nhập và dịch vụ cảng biển trở thành một trong những dịch vụ quan trọng của tỉnh.

Để đạt các mục tiêu trên, Nghị quyết đã đề ra các nhiệm vụ và giải pháp triển khai thực hiện; trong đó, tập trung: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với phát triển cảng biển và dịch vụ cảng biển; Phát triển dịch vụ cảng biển và dịch vụ logistics; Phát triển hạ tầng cảng biển và hạ tầng giao thông kết nối; Huy động tối đa các nguồn lực để phát triển hệ thống cảng biển và dịch vụ cảng biển; Phát triển nguồn nhân lực;…

Cụ thể, Nghị quyết yêu cầu đẩy mạnh công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức; nâng cao chất lượng đội ngũ, năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước giữ vai trò định hướng chiến lược, rà soát, hoàn thiện xây dựng các cơ chế chính sách nhằm huy động tối đa nguồn lực để phát triển cảng biển và dịch vụ cảng biển.

Trên cơ sở bám sát các quy hoạch của Trung ương đang triển khai như Quy hoạch không gian biển quốc gia, Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ… tỉnh Quảng Ninh sẽ kịp thời rà soát, cập nhật, điều chỉnh các quy hoạch tỉnh đang triển khai liên quan đến phát triển cảng biển và dịch vụ cảng biển; triển khai lập các quy hoạch theo Luật Quy hoạch và đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các quy hoạch đang triển khai cập; ưu tiên quỹ đất để phát triển dịch vụ logistics và dịch vụ hậu cần sau cảng.

Quy chế quản lý, khai thác cảng biển và dịch vụ cảng biển trên địa bàn tỉnh sẽ được xây dựng theo hướng khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng và quản lý, khai thác cảng biển và dịch vụ cảng biển trên địa bàn bằng nhiều hình thức theo quy định của pháp luật.

Theo Nghị quyết, tại các cảng khách quốc tế (Hòn Gai, Vân Đồn) sẽ phát triển dịch vụ chất lượng cao mang tầm quốc tế phục vụ khách du lịch, đồng thời hoàn thiện và nâng cao chất lượng các dịch vụ công như xuất nhập cảnh, kiểm dịch y tế; phấn đấu có đại lý hàng hải trực tiếp cho các hãng tàu khách quốc tế tại Quảng Ninh. Tại các cảng hàng hóa, phát triển dịch vụ lưu kho bãi và cho thuê kho bãi tại các khu vực có tiềm năng và lợi thế (Quảng Yên, Móng Cái); phát triển dịch vụ xếp dỡ hàng hóa tại các khu neo đậu, chuyển tải; phát triển dịch vụ kho bãi phục vụ hàng tổng hợp, hàng ngoại quan, hàng biên mậu tại Tiên Yên, Hải Hà, Móng Cái. Đối với các dịch vụ hiện có, sẽ phát triển chọn lọc, trong đó tỉnh ưu tiên phát triển các dịch vụ mang lại giá trị gia tăng cao và thân thiện với môi trường.

Tỉnh Quảng Ninh cũng sẽ xây dựng và triển khai đồng bộ cơ chế quản lý, điều hành cảng bằng công nghệ tiên tiến, thực hiện thủ tục "một cửa" hiện đại, liên thông của các cơ quan chuyên ngành tại chỗ. Nâng cao chất lượng hệ thống một cửa quốc gia, tiến đến áp dụng dịch vụ công trực tuyến cấp đô 4 đối với Hải quan và Cảng vụ hàng hải Quảng Ninh. Áp dụng hệ thống quản lý hải quan tự động tại cảng biển (VASSCM) cho 100% các khu bến, bến cảng có hoạt động xuất nhập khẩu.

Để phát triển hạ tầng cảng biển và hạ tầng giao thông kết nối, tỉnh sẽ xây dựng các khu chức năng chất lượng cao phục vụ hành khách tại cảng khách quốc tế Hòn Gai, Vân Đồn; đầu tư mới một số khu bến, bến cảng quan trọng như Vạn Ninh, Con Ong – Hòn Nét, Hải Hà, cảng tàu khách quốc tế Vân Đồn…; rà soát, sắp xếp lại hệ thống các bến cảng chuyên dùng; đầu tư xây dựng kho bãi, khu hậu cần logistics, cảng cạn, trong đó ưu tiên phát triển khu dịch vụ hậu cần sau cảng và logistics tại khu vực Quảng Yên với quy mô khoảng 3.000 – 5.000 ha.

Đồng thời, ưu tiên nguồn lực ngân sách nhà nước để đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các dự án hạ tầng giao thông kết nối để tạo động lực thu hút nguồn lực ngoài ngân sách đầu tư hệ thống hạ tầng cảng biển như: đường kết nối từ cao tốc Hạ Long – Vân Đồn với cảng Cái Lân, đường kết nối từ cao tốc Vân Đồn – Móng Cái đến cảng Vạn Gia mở rộng, đường bao biển Hạ Long – Cẩm Phả.

Thời gian tới, tỉnh Quảng Ninh sẽ huy động tối đa mọi nguồn lực để phát triển hệ thống cảng biển và dịch vụ cảng biển. Trong đó, tập trung huy động nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước để đầu tư phát triển các khu bến, bến cảng, khu dịch vụ hậu cần sau cảng và logistics, thu hút nguồn lực đầu tư từ khối kinh tế tư nhân cho phát triển cảng và dịch vụ cảng biển; xem xét áp dụng đầu tư phát triển cảng biển và hệ thống giao thông kết nối đối với các cảng có quy mô lớn theo mô hình hợp tác công tư (PPP) theo hướng Nhà nước tạo điều kiện về quỹ đất. Đồng thời, vận dụng linh hoạt các các chính sách hỗ trợ, ưu đãi hiện hành về tín dụng, thuế, giá, phí, lệ phí, chuyển giao công nghệ, nhượng quyền phù hợp với điều kiện cụ thể ở Quảng Ninh; hỗ trợ các chủ hàng, chủ tàu, chủ cảng trong nước và quốc tế mở các tuyến vận tải hàng hóa đi và đến cảng biển Quảng Ninh; xúc tiến kêu gọi các hãng tàu biển lớn trên thế giới, tập đoàn tài chính, ngân hàng… mở chi nhánh, văn phòng đại diện tại Quảng Ninh.

Để phát triển cảng biển và dịch vụ cảng biển, tỉnh Quảng Ninh cũng sẽ tăng cường nguồn lực đầu tư cho các cơ sở đào tạo nhân lực phục vụ trong lĩnh vực quản lý, quản trị, khai thác cảng biển, dịch vụ cảng biển; tăng cường đào tạo, nâng cao kiến thức về quản lý, khai thác cảng biển và dịch vụ cảng biển cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực cảng biển và dịch vụ cảng biển; rà soát, bổ sung các nghề thuộc lĩnh vực cảng biển và dịch vụ cảng biển vào danh mục các nghề khuyến khích đào tạo của tỉnh.

Một số mục tiêu cụ thể về phát triển cảng biển và dịch vụ cảng biển tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030

  1. Giai đoạn 2019 - 2025:

- Đối với dịch vụ cảng biển:

+ Tổng doanh thu dịch vụ cảng biển đạt khoảng 25.000 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân đạt 17,5%/năm; Đến năm 2025, dịch vụ cảng biển đóng góp khoảng 1,2% - 1,5% trong GRDP của tỉnh.

+ Sản lượng hàng hóa thông qua cảng đạt khoảng 114,5 – 122,5 triệu tấn, lưu lượng hành khách vận tải biển đạt 250.000 – 300.000 lượt khách.

+ Tổng lượng khách du lịch biển, đảo đạt 23,5 triệu lượt, trong đó khách quốc tế đạt 10 triệu lượt khách.

- Dịch vụ cảng hành khách: Chú trọng phát triển các dịch vụ có giá trị tăng cao, chất lượng phục vụ khách du lịch trong nước và quốc tế tại khu vực cảng khách quốc tế Hòn Gai như: tham quan, mua sắm, chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí…

- Dịch vụ cảng hàng hóa: Phát triển các dịch vụ chủ đạo đem lại giá trị gồm dịch vụ lưu kho bãi và cho thuê kho bãi, xếp dỡ hàng hóa, đồng thời tiếp tục phát triển thêm từ 2 – 3 dịch vụ tiềm năng và không gây ô nhiễm môi trường.

- Đối với hạ tầng cảng biển:

+ Đầu tư hoàn thành cảng khách quốc tế Hòn Gai theo tiêu chuẩn cảng khách du lịch quốc tế, hình thành các bến du thuyền tiêu chuẩn quốc tế tại khu vực Vịnh Cửa Lục.

+ Đầu tư phát triển khu dịch vụ hậu cần sau cảng và logistics tập trung khu vực Quảng Yên. Đầu tư xây dựng một số cảng biển quan trọng: Vạn Ninh (Vạn Gia mở rộng), Con Ong – Hòn Nét, Hải Hà,… đồng thời hoàn thành bến cảng khách du lịch nội địa tại Nam Cầu Trắng để kết nối với các cảng khách du lịch tại Vân Đồn theo đúng quy hoạch.

  1. Giai đoạn 2026 – 2030:

- Đối với dịch vụ cảng biển:

+ Tổng doanh thu dịch vụ cảng biển đạt khoản 47.500 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân đạt 18,5%/năm; Đến 2030, dịch vụ cảng biển đóng góp 3% - 3,5% trong GRDP của tỉnh.

+ Sản lượng hàng hóa thông qua cảng đạt khoảng 147,0 – 161,5 triệu tấn, lưu lượng hành khách vận tải biển đạt 400.000 – 500.000 lượt khách.

+ Tổng lượng khách du lịch biển, đảo đạt 28,5 triệu lượt, trong đó khách quốc tế đạt 12 triệu lượt khách.

- Dịch vụ cảng hành khách: Tiếp tục duy trì, phát triển các dịch vụ chất lượng cao tại Cảng khách quốc tế Hòn Gai, các cảng theo quy hoạch tại đảo Ngọc Vừng, Vân Đồn. Phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng cao tại khu vực Cảng khách quốc tế Vân Đồn khi đưa vào hoạt động.

- Dịch vụ cảng hàng hóa: Tiếp tục duy trì, nâng cao chất lượng các dịch vụ chủ lực, đồng thời phát triển đầy đủ các loại dịch vụ cảng biển.

- Đối với hạ tầng cảng biển:

+ Đầu tư xây dựng cảng khách quốc tế Vân Đồn theo tiêu chuẩn cảng khách du lịch quốc tế và các bến du thuyền.

+ Xây dựng cảng Vạn Hoa thành cảng lưỡng dụng.

+ Tiếp tục đầu tư phát triển hoàn thiện khu dịch vụ hậu cần sau cảng và logistics tập trung khu vực Quảng Yên, trọng điểm là khu Đầm nhà Mạc.

Nguyễn Duyên (Tổng hợp)


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 271
Đã truy cập: 334812